Triết lý giáo dục và con đường cách tân

01/07/2014

Triết lý giáo dục của chúng ta là gì?


Mỗi nền giáo dục dựa trên một hệ triết lý giáo dục có ảnh hưởng mang tính quyết định đến nội dung, phương pháp dạy và học. Giáo dục Mỹ có những triết lý giáo dục rõ ràng có tính khoa học và hiệu quả, nhờ thế mà có chất lượng giáo dục của Mỹ tốt bậc nhất thế giới. 

 

Các triết lý giáo dục cốt lõi của Mỹ bao gồm: Thuyết trường tồn (Perennialism), thuyết bản chất (Essentialism) ,thuyết hiện sinh (Existentialism), thuyết tiến bộ (Progressivism), thuyết cải tạo xã hội (Social reconstructionism).

 

Thuyết trường tồn chú trọng các chân lý phổ quát được kiểm nghiệm qua thời gian, khuyến khích học sinh đọc "Những cuốn sách vĩ đại" ("The Great Books") để phát triển nhận thức các quan điểm triết học tạo nền tảng cho kiến thức nhân loại. (Mỹ rất chú trọng việc học sinh đọc những sách kinh điển trong danh sách nhà trường lựa chọn cho từng cấp học, dao động từ một vài trăm đến một vài nghìn cuốn để giáo viên chọn cho học sinh của mình đọc, thảo luận nhóm và viết thu hoạch). Những cuốn sách như vậy sẽ tạo cảm hứng và hình thành nên nhân cách, tư tưởng lớn cho học sinh.

 

Thuyết bản chất đề cao việc dạy các nội dung mang tính bản chất thuộc các kiến thức kinh điển và đạo đức, khuyến khích nhà trường trở về với các vấn đề căn bản, dựa trên chương trình giáo dục cốt lõi mạnh và các tiêu chuẩn kinh điển cao. Đối với tất cả các lĩnh vực tự nhiên và xã hội các vấn đề cơ bản nhất cũng như lịch sử phát triển của nó được đưa ra buộc đối tượng học sinh ở thời điểm hiện tại phải diễn giải bản chất cốt lõi từ gốc dễ vấn đề chứ không nhắm vào các kết quả phần ngọn như các phương pháp của Việt Nam hiện nay. Khuyến khích các tranh luận và tư duy độc lập về các vấn đề của học sinh, khuyến khích giáo viên định hướng suy nghĩ cho học sinh chứ không dập khuôn tư duy phát triển của học sinh.

 
Thuyết hiện sinh xuất phát từ quan điểm về tự do ý thức của mỗi con người và nhu cầu để mỗi con người tự tạo dựng tương lai cho bản thân. Trong một nhà trường, các học sinh được khuyến khích hiểu và đề cao tính độc nhất vô nhị của bản thân và chịu trách nhiệm về các hành động của mình. Không gò bó hay đè nén học sinh bằng quan điểm và tư tưởng chủ quan của cha mẹ, nhà trường, xã hội.
Xuất phát từ học thuyết tâm lý học của Freu mỗi con người sinh ra đều có một đặc điểm riêng nhưng thường bị xã hội bên ngoài đè nén kiểm soát luôn không có được sự tự do sẽ dần tạo nên hai bản thể tâm lý đối nghịch, hai bản thể tâm lý này chỉ được giải thoát khi cá nhân đó tự giác ngộ bằng con đường học để tự nhận thức.
Xã hội càng hiện đại có những căn bệnh như bệnh tự kỷ, các chủ thể bất ngờ bộc phát tội ác nhằm vào trả thù xã hội như các vụ xả súng ở Mỹ, tất cả đều gặp phải các biểu hiện xã hội này theo học thuyết của Freu. Chỉ bằng giáo dục dựa trên tư tưởng triết học hiện sinh mới tạo ra con người tự do và phát triển toàn bộ chân thiện mỹ của bản thân. Nó còn mang tính nhân văn sâu sắc với những cá nhân sinh ra bị khuyết tật bẩm sinh không bị tước đi quyền được hưởng về giáo dục và quyền được làm việc và cống hiến cho xã hội.

 

Thuyết tiến bộ đòi hỏi nội dung các bài giảng ở trường phải có sự liên quan đến học sinh để các em mong muốn học tập. Chương trình giảng dạy của nhà trường theo triết lý giáo dục này được xây dựng xoay quanh các trải nghiệm, lợi ích, nhu cầu cá nhân của học sinh nhằm tạo hứng thú, đam mê học tập. Có thể chấm điểm các phương pháp giảng dạy của giáo viên và khuyến khích giáo viên sáng tạo không ngừng về phương pháp truyền đạt và kích thích đam mê học tập của học sinh. Học sinh thích học ngày càng say mê học và học tập chủ động có phương pháp là thành công của giáo viên chứ không phải điểm số, nếu học sinh sợ môn học và lười học là thất bại của giáo viên.

 

Thuyết cải tạo xã hội như triết lý giáo dục đòi hỏi sự chú tâm trực tiếp và kịp thời đến tệ nạn, thói hư tật xấu trong xã hội, đề cao sự kết hợp học với hành, dựa trên niềm tin rằng giáo dục có thể và cần phải cải thiện, giải quyết các vấn đề xã hội. Các môn học như giáo dục công dân, trách nhiệm cộng đồng, dạy học sinh biết ứng xử có kiến thức có văn hóa trong xã hội là rất quan trọng. Học cao hơn thì hiểu biết pháp luật ứng xử đúng pháp luật đấu tranh với hành vi sai trái trong cuộc sống. Không có trường hợp học sinh hay sinh viên có mục đích dùng quà cáp biếu thầy để thầy quan tâm cho thêm điểm. Từ những hiểu biết xã hội và tôn trọng quy luật trong xã hội hướng đến cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, Ý thức cải tạo xã hội được khuyến khích ngay từ cải tạo cá nhân, cải tạo môi trường xung quanh đến cải tạo cộng đồng và không ngừng cải tạo chứ không dừng lại để phát triển hơn.

 

Thật khó hình dung một nền giáo dục mà thiếu triết lý giáo dục. Giáo dục của Việt Nam có triết lý giáo dục không, triết lý đó như thế nào, bao gồm những nội dung gì?
Chúng ta có nhiều quan điểm về giáo dục và có một vài tư tưởng triết học phần nhiều do nền tảng văn hóa xã hội tương tưởng nho giáo về Đức dục hay kinh nghiệm dân gian chứ không xây dựng các tư tưởng triết học hoàn thiện về giáo dục dựa trên những nền tảng học thuyết có ảnh hưởng của nhân loại.
Những tư tưởng giáo dục như:

- Tiên học lễ hậu học văn.
- Học đi đôi với hành.
- Không thầy đố mày làm nên.

- Cho con ba vạn không bằng một nghề cho con.
- Thiện ác phải đâu là tính sẵn phần nhiều do giáo dục mà nên. Trẻ em như búp trên cành biết ăn biết ngủ học hành là ngoan(Bác Hồ). 

Các học thuyết có tầm ảnh hưởng lớn đến giáo dục trên thế giới được biết đến chỉ khoảng giữa thế kỷ trước thế kỷ 20, nền giáo dục giựa trên các tư tưởng và phương pháp tiến bộ của Liên Xô trước đây của Việt Nam cùng các quan điểm đức dục hiện đại kế thừa các tư tưởng truyền thống với tư tưởng giáo dục thiên hướng tự do của Bác Hồ. Có những nhà giáo dục lớn như Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm đã ươm mầm lên những lớp học sinh ưu tú và tài năng trong môi trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các mầm non đã thành công  mà về sau mà chúng ta được biết đến các tên tuổi có  như Ngô Bảo Châu, Lê Bá Khánh Trình, Đàm Thanh Sơn... 

Cấu trúc giáo dục có mức sàng lọc khắt khe cả người giảng và người học đã bị phá vỡ bởi nền tảng kinh tế thị trường tràn về, sự xuống dốc của giáo dục Việt Nam và những biến đổi và kinh tế và thể chế chính trị những loay hoay điều chỉnh cục bộ không thành công trong giáo dục. Sự tràn ngập các mô hình đào tạo liên kết học nghề đào tạo chạy theo ngọn cả trong và ngoài nước chỉ để lo tìm những nghề nghiệp tạm thời cho học sinh ra trường. Những đầu tư tốn kém của gia đình cho con cái nhưng ra trường không có môi trường cọ sát và làm việc. Nền kinh tế gia công của Việt Nam, khai thác tài nguyên thô của Việt Nam chỉ dựa trên vốn và lực lượng lao động thủ công không dựa trên phát triển lao động và chuyên gia có chất xám nên không khuyến khích đầu tư liên kết giữa giáo dục với các chuyên ngành đào tạo. Việc không có môi trường đầu tư cho các nghiên cứu khoa học triển khai trong cuộc sống các công trình nghiên cứu chỉ được đóng khung chứ không triển khai mang lại giá trị cho xã hội. Tất yếu nền học thuật và coi trọng giá trị của tri thức phải đi xuống những hệ lụy suy giảm cả đạo đức và lối sống của toàn xã hội

Việt Nam ngày nay phải xây dựng đồng bộ lại hệ thống giáo dục giựa trên các triết lý giáo dục có ảnh hưởng thời đại, cải cách môi trường giáo dục theo đúng các triết lý có ảnh hưởng lớn đó, khôi phục xây dựng lại phương pháp giáo dục của các nhà giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm đã xây dựng trước đó vì nó được thực tế kiểm nghiệm thành công. Cùng với cải cách kinh tế theo chiều sâu Việt Nam cần có thị trường vốn cho đầu tư nghiên cứu khoa học và hợp tác nghiên cứu ứng dụng giữa các ngành với ngành giáo dục. Giữ chân và mời các chuyên gia hàng đầu cộng tác đào tạo và nghiên cứu vinh danh các nghiên cứu trước xã hội các danh hiệu cao quý với giới học thuật với những cống hiến của họ.
Với dân số trẻ 90 triệu người hiện nay chúng ta đứng trước thách thức và cơ hội nắm bắt vận mệnh phát triển của đất nước, nếu cải cách giáo dục thành công sẽ là cái xương sống cho đất nước đi lên. Giáo dục đi đầu và đóng vai trò quyết định với sự hưng thịnh của đất nước chúng ta. Cần lắm câu trả lời của các nhà quản lý giáo dục.

Sản phẩm
Quảng cáo
  • qc3
    qc3